Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Thiết bị nội soi kiểm soát chảy máu đường tiêu hóa

Theo BS. Binita Ashar, Giám đốc bộ phận Thiết bị phòng mổ của FDA: “Thiết bị này cho chúng ta một lựa chọn khác, không cần phẫu thuật, để kiểm soát chảy máu đường tiêu hóa trên và dưới ở một số bệnh nhân và có thể làm giảm nguy cơ tử vong do chảy máu đường tiêu hóa ở rất nhiều bệnh nhân.”

Hemospray là một bình phun khí dung đưa hỗn hợp khoáng chất vào khu vực chảy máu. Thiết bị này được sử dụng trong quá trình nội soi và có thể bao phủ những khu vực rộng, như vết loét rộng hoặc khối u. Không được sử dụng thiết bị này ở bệnh nhân chảy máu do giãn tĩnh mạch (như trong bệnh gan do dùng rượu), các bệnh nhân có lỗ rò đường tiêu hóa hoặc có nguy cơ cao bị thủng đường tiêu hóa.

FDA xem xét dữ liệu từ thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân chảy máu đường tiêu hóa trên và dưới và dữ liệu thực tế từ báo cáo y học trên những bệnh nhân khác, cho thấy Hemospray làm ngừng chảy máu đường tiêu hóa ở 95% bệnh nhân trong vòng 5 phút đầu tiên sau khi dùng.

Hà Phương

((Theo FDA 5/2018))

Suy tim: Chẩn đoán và điều trị

Nguyên nhân suy tim giảm tống máu có thể bao gồm bệnh lý tại cơ tim như bệnh tim thiếu máu cục bộ, nhiễm độc cơ tim, tổn thương qua viêm hay miễn dịch; bệnh lý do tăng tải như tăng huyết áp, bệnh van tim, khiếm khuyết cấu trúc cơ tim, bệnh màng ngoài tim; các loạn nhịp nhanh và loạn nhịp chậm.

Tại các nước phát triển, tần suất suy tim khoảng 1 - 2% ở người lớn, gia tăng theo tuổi, đến ≥ 10% ở người trên 70 tuổi. Nguy cơ suốt đời về suy tim ở người > 55 tuổi là 33% ở nam và 28% ở nữ. Suy tim là vấn đề lớn của nhân loại về bệnh tật và tử vong, tuổi thọ càng cao càng gia tăng suy tim.

Chẩn đoán

Chẩn đoán suy tim mạn khởi đầu dựa vào bệnh sử lâm sàng, khám thực thể và ECG (điện tâm đồ). Triệu chứng cơ năng của suy tim bao gồm:

Khó thở gắng sức.

Khó thở phải ngồi.

Cơn khó thở kịch phát về đêm.

Mệt, yếu sức, hồi phục chậm sau gắng sức.

Các phương tiện cận lâm sàng khác giúp chẩn đoán xác định và chẩn đoán nguyên nhân, tiên lượng và theo dõi điều trị suy tim bao gồm: điện tâm đồ, X-quang ngực, siêu âm tim qua thành bụng, ảnh cộng hưởng từ, chụp động mạch vành qua thông tim.

Hiện nay chẩn đoán suy tim có phần dễ hơn nhờ áp dụng phổ biến siêu âm tim và đo chất chỉ điểm sinh học. Ảnh cộng hưởng từ hiệu quả trong phát hiện nguyên nhân suy tim như viêm cơ tim, bệnh tim bẩm sinh và cả bệnh tim thiếu máu cục bộ.

Suy timĐiện tâm đồ chẩn đoán suy tim mạn

Tiến bộ trong điều trị suy tim

Mục đích của điều trị suy tim là giảm tử vong, giảm nhập viện và tăng chất lượng sống của người bệnh. Nhiều biện pháp giúp phòng ngừa hoặc làm chậm tiến triển của suy tim hoặc phòng đột tử, từ trước khi bệnh nhân có triệu chứng cơ năng (giai đoạn A và B của suy tim).

Mục đích của điều trị suy tim là giảm tử vong, giảm nhập viện và tăng chất lượng sống của người bệnh

Chỉ định loại I, ở giai đoạn A và B của suy tim là: điều trị tăng huyết áp, điều trị bằng statins bệnh nhân đang có hoặc có nguy cơ cao bệnh động mạch vành, sử dụng ức chế men chuyển bệnh nhân rối loạn chức năng thất trái có hay không có triệu chứng cơ năng, sử dụng chẹn beta bệnh nhân rối loạn chức năng thất trái không triệu chứng cơ năng sau nhồi máu cơ tim. Máy phá rung cấy được (ICD: implantable cardioverter defibrillatior) cần được thực hiện trên bệnh nhân bị suy tim giảm phân suất tống máu (PSTM < 30%) dù không triệu chứng cơ năng, do nguyên nhân thiếu máu cục bộ, ít nhất 40 ngày sau nhồi máu cơ tim cấp hoặc bệnh cơ tim giãn nở không thiếu máu cục bộ không triệu chứng cơ năng kèm theo PSTM ≤ 30% đã được điều trị nội tối ưu…

Các biện pháp điều trị khác như phẫu thuật van tim, phẫu thuật bắc cầu động mạch vành, tái lưu thông động mạch vành qua thông tim đều được chứng minh giảm tật bệnh và tử vong.

Chiến lược điều trị để đạt tối ưu:

- Bệnh nhân (người cao tuổi, bệnh thận mạn) cần thăm khám thường xuyên và xét nghiệm khi chỉnh liều thuốc.

- Theo dõi dấu hiệu sinh tồn trước và trong khi chỉnh liều, huyết áp tư thế đứng, tần số tim.

- Chỉnh liều từng loại thuốc.

Theo dõi chức năng thận và điện giải (creatinine, ion đồ).

- Trấn an bệnh nhân nếu tăng liều có cảm giác mệt và yếu tăng, tuy nhiên dấu sinh tồn ổn.

- Khuyên bệnh nhân không tự ý ngưng thuốc đột ngột hoặc ngưng thuốc theo ý kiến chuyên gia khác.

Kiểm tra cẩn thận liều lượng thuốc giảm triệu chứng suy tim (thí dụ như lợi tiểu, nitrates) khi tăng liều thuốc.

Cân nhắc giảm liều hay ngưng một loại thuốc khi có biến cố cấp ngoài tim (như: nhiễm trùng phổi, thiếu nước…).

Hướng dẫn bệnh nhân, gia đình, các bệnh nhân khác về lợi điểm của điều trị theo khuyến cáo.

PGS.TS. PHẠM NGUYỄN VINH

Chuyên gia chỉ rõ 13 yếu tố gây kích phát cơn hen

Tại Hội nghị khoa học và lễ mít tinh hưởng ứng ngày hen toàn cầu 2018 (11/5) diễn ra tại Bệnh viện Bạch Mai, PGS.TS. Nguyễn Quốc Anh, Giám đốc bệnh viện Bạch Mai cho biết, hen phế quản là một bệnh lý phổ biến. Hiện nay trên thế giới có khoảng 300 triệu người mắc hen, mỗi năm, toàn thế giới phải chi hàng chục tỷ đô la Mỹ cho các vấn đề liên quan đến Hen phế quản.

 

PGS.TS Nguyễn Quốc Anh phát biểu tại hội nghị

Chủ đề của ngày hen toàn cầu năm 2018 là “Không quá sớm nhưng đừng để quá muộn”. Kiểm soát hen là mục tiêu vàng của điều trị, từ đó có thể giúp hầu hết bệnh nhân hen phế quản phù hợp.

Ở Việt Nam, tỷ lệ hen phế quản là 3,9% dân số -như vậy, số lượng bệnh nhân hen phế quản ở Việt Nam ước tính gần 4 triệu người

Trong các bệnh nhân hen, các chuyên gia tìm thấy 13 yếu tố gây kích phát cơn hen ở bệnh nhân, gồm: Gắng sức, thay đổi thời tiết, viêm đường hô hấp, Khói (khói thuốc lá, khói than), nhiễm lạnh, hóa chất, bụi nhà, bụi công nghiệp, tiếp xúc vật nuôi, cảm xúc, thuốc, thức ăn, liên quan thai nghén.

Trong đó các yếu tố gây tác động cơn hen nhiều nhất là thay đổi thời tiết (85,2%), gắng sức (gần 70%), nhiễm lạnh (53,2%), viêm đường hô hấp…

Bệnh nhân hen cũng thường mắc các bệnh dị ứng kèm theo như viêm mũi dị ứng, mề đay, dị ứng thức ăn, viêm kết mạc dị ứng, viêm da cơ địa…

Theo PGS.TS Nguyễn Quốc Anh, bệnh hen gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho người bệnh, gia đình và xã hội. Tỉ lệ tử vong do bệnh hen còn cao mặc dù đã có thuốc điều trị, kiểm soát hiệu quả.

Chi phí cho việc chăm sóc bệnh hen rất tốn kém, đặc biệt là chi phí nằm viện, cấp cứu, mất việc làm, nghỉ học do cơn hen cấp. Trong khi đó, người bệnh, thậm chí cả nhân viên y tế chưa hiểu được hết giá trị của việc dự phòng hen phế quản dù đây là bệnh hoàn toàn có thể kiểm soát được, bệnh nhân sẽ có cơ hội sống bình thường nếu được kiểm soát tốt.

 

Khám và tư vấn về bệnh hen cho người bệnh

 

Ths.BS Nguyễn Hoàng Phương, Giám đốc Trung tâm dị ứng – Miễn dịch lâm sàng (BV Bạch Mai) cho biết, với những báo cáo được trình bày tại Hội nghị khoa học sẽ cung cấp cho bác sĩ những kiến thức mới nhất, cập nhật nhất về điều trị, dự phòng hen phế quản cho bệnh nhân, các đối tượng bệnh nhân nhỏ tuổi, phụ nữ mang thai… để góp phần nâng cao việc dự phòng, điều trị kiểm soát bệnh hiệu quả cho bệnh nhân hen phế quản. Bởi cơn hen phế quản bùng phát khi không được kiểm soát hiệu quả có thể đẩy người bệnh vào nguy hiểm, tử vong nhanh chóng.

 

Hưởng ứng ngày Hen Phế Quản toàn cầu năm 2018, từ 7h30 sáng ngày 12/05/2018, tại hội trường lớn, tầng 2, nhà Nhật, Bệnh viện Bạch Mai, Số 78 Giải Phóng – Đống Đa – Hà Nội, Trung tâm Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng Bệnh viện Bạch Mai tổ chức khám và tư vấn miễn phí bệnh Hen phế quản cho người dân khu vực Hà Nội và một số tỉnh lân cận.Người dân tới khám sẽ được các bác sỹ của Trung tâm Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng, khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai khám nội khoa, đo lưu lượng đỉnh kế, đo chức năng hô hấp, phát thuốc miễn phí cho các đối tượng được chẩn đoán mắc mới và đưa vào chương trình quản lý ngoại trú hen phế quảnĐến khám là những người có ít nhất một trong các yếu tố nguy cơ sau:+ Khó thở+ Thở khò khè, cò cử+ Ho+ Nặng ngực+ Khó thở về đêm+ Khó thở khi thay đổi thời tiết.+ Bản thân và gia đình đã từng mắc các bệnh liên quan đến cơ địa dị ứng (Chàm, Mày đay, Hen phế quản, Dị ứng thuốc, Dị ứng thức ăn…)

 

Thái Bình

Phát hiện và chữa trị kịp thời nhược thị ở trẻ em

Nghỉ hè là lúc trẻ có nhiều thời gian vui chơi, không phải học bài. Đúng ra thời gian này, mắt được nghỉ ngơi nhiều nhất. Nhưng thực tế, khi không phải học bài, trẻ lại tiếp xúc nhiều với máy tính, điện thoại, xem tivi trong nhiều giờ... là nguyên nhân gây bệnh nhược thị ở trẻ em.

Bệnh nhược thị là hiện tượng suy giảm khả năng hoạt động và sự kém phát triển về chức năng của cơ quan thị giác. Nhược thị hầu như chỉ xảy ra ở một mắt nhưng đôi khi nó có thể làm giảm thị lực ở cả hai mắt, dẫn đến thị lực bị giảm sút mà không thể điều trị bằng cách chỉnh độ kính. Thị lực chỉ đạt dưới 7/10 và không thể đạt được 10/10 sau khi đã chỉnh kính tối ưu.

Dấu hiệu nhận biết trẻ bị nhược thị

Biểu hiện duy nhất của nhược thị là nhìn mờ, được biểu hiện khi: Trẻ tự phát hiện nhìn mờ; trẻ xem tivi, đọc sách, viết ở khoảng cách gần; nheo mắt, dụi mắt khi xem tivi; viết bị sai hàng; nghiêng đầu khi nhìn; khó khăn khi nhìn bảng, kêu ca là bị mỏi mắt...

Nhược thị có thể đưa đến nhiều tác hại đối với trẻ, làm ảnh hưởng đến học tập (đọc viết chậm, học mau mệt, tiếp thu chậm, viết bài sai, hay nhức mắt...); ảnh hưởng đến sinh hoạt (hay bị va chạm, làm vỡ, đổ vật dụng, dễ bị té ngã, khó hòa nhập, không tự tin...) và gây ảnh hưởng lâu dài làm cho mắt, thị lực bị giảm sút, thậm chí mù lòa nếu không được điều trị.

Khám phát hiện các bệnh về mắt cho trẻ.

Khám phát hiện các bệnh về mắt cho trẻ.

Thủ phạm nào gây nhược thị?

Mắt lác (mắt lé): Là tình trạng mắt không di chuyển vào cùng một hướng khi nhìn vào một vật. Tình trạng này là do não không bắt kịp hình ảnh mờ của mắt, dần dẫn đến thị giác gần như bị mất.

Loạn thị: Loạn thị có thể đi kèm với cận thị và viễn thị. Tật viễn thị hay cận thị đều có thể dẫn đến sự lệch tâm của mắt. Khi trẻ bị tật cận thị và viễn thị, não bộ sẽ bỏ qua những hình ảnh bị mờ dẫn đến nhược thị.

Sụp mí: Các vấn đề về biến dạng như giải phẫu và dị dạng cấu trúc mắt có thể dẫn đến nhược thị. Nếu một trong hai mắt bị sụp mí, điều này làm cho thị giác bị chắn gây nhược thị.

Đục thủy tinh thể: Sự hình thành đục thủy tinh thể có thể gây ra tình trạng không nhìn thấy. Não từ chối hiểu những hình ảnh bị mờ và không rõ nét do bị thủy tinh thể dẫn đến tình trạng mắt nhược thị.

Bất đồng khúc xạ: Khúc xạ của 2 mắt trẻ không đều dẫn đến giảm sức nhìn ở trẻ.

Di truyền: Tiền sử gia đình và gene đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nhược thị ở trẻ. Nếu trẻ có người thân trong gia đình mắc chứng nhược thị thì trẻ cũng có nguy cơ phát triển bệnh này.

Phương pháp điều trị nhược thị cho trẻ em

Những bài tập dành cho mắt bị nhược thị:

Che mắt: Dùng lòng bàn tay che một bên mắt nhìn rõ hơn và cố gắng tập trung nhìn mọi thứ xung quanh và diễn tả chúng. Thực hiện bài tập này mỗi ngày duy trì trong vòng 6 tháng đến 1 năm. Thị lực bên mắt bị nhược thị sẽ được cải thiện đáng kể.

Tập trung: Dùng lòng bàn tay che một bên mắt nhìn rõ hơn, sử dụng ngón tay trỏ của bàn tay còn lại đưa ra trước mắt rồi từ từ di chuyển ngón tay ra xa. Tập trung vào sự di chuyển từ gần đến xa của ngón tay trong một thời gian. Sau đó, nghỉ ngơi 5 phút và làm lại lần nữa. Lặp lại bài tập 3 lần một ngày để cải thiện tình trạng mắt nhược thị.

Liệu pháp thị lực: Là một trong những liệu pháp vật lý tăng hiệu quả của mắt cũng như não bộ. Đây là một phương pháp điều trị mang lại hiệu quả cao cho bệnh nhân không sẵn sàng thực hiện phẫu thuật. Những vấn đề thị giác như nhược thị, lác mắt, cận thị và các vấn đề về cơ mắt yếu đều có thể điều trị.

Thời gian điều trị phụ thuộc vào tuổi của trẻ, cha mẹ nên tham khảo ý kiến của bác sĩ để có quá trình điều trị hiệu quả cho con. Các yếu tố quyết định thành công của quá trình điều trị là xác định chính xác nguyên nhân, mức độ bệnh, tuổi của trẻ, sự phối hợp giữa gia đình và bệnh viện. Thời gian luyện tập thường là vài tuần đến vài tháng. Tuy nhiên có trường hợp phải tập luyện rất lâu dài, thậm chí hằng năm, nhất là khi phát hiện muộn ở lứa tuổi 10 - 12. Sau khi đã điều trị bệnh ổn định, tùy từng trường hợp vẫn phải được điều trị duy trì hoặc có quá trình theo dõi lâu dài để tránh tái phát.

Trong quá trình điều trị cho trẻ, ngoài việc khuyến khích và nhắc cần chú ý nhắc nhở trẻ điều chỉnh thói quen sinh hoạt. Đặc biệt lưu ý thời gian trẻ tiếp xúc với các thiết bị công nghệ như tivi, điện thoại, máy tính,... Bởi ánh sáng đèn LED từ các thiết bị này là tác nhân gây ra và làm các căn bệnh về mắt có chiều hướng trầm trọng hơn.

Với đặc tính của bệnh, cách điều trị hiệu quả nhất chính là phát hiện bệnh sớm, nhất là giai đoạn trẻ dưới 8 tuổi. Để được xác định đúng bệnh, cha mẹ nên đưa trẻ đi khám mắt thường xuyên 2lần/năm để phát hiện sớm các dấu hiệu bệnh ở mắt và điều trị kịp thời.

BS. Hà Trang

Sơ cứu nạn nhân có vết thương chảy máu

Chảy máu ngoài

Các nguyên tắc chung:

Ép trực tiếp lên vết thương đang chảy máu:

Nhanh chóng ép trực tiếp lên vết thương. Nếu có điều kiện thì đặt lên vết thương một miếng gạc hoặc miếng vải sạch trước khi ép trực tiếp.

Nếu vết thương chảy máu nhiều, đừng lãng phí thời gian tìm kiếm băng gạc, hãy dùng chính bàn tay của bệnh nhân hay bàn tay của bạn để ép vết thương lại (nếu nạn nhân không thể tự làm việc này).

Nâng cao vùng bị tổn thương:

- Ðặt nạn nhân nằm ở tư thế thoải mái thuận tiện, nâng cao vùng bị tổn thương để giảm áp lực máu tới vùng này.

- Dùng băng cuộn hoặc dây vải băng ép miếng gạc hoặc miếng vải vào vết thương. Không băng quá chặt như hình thức ga rô.

Sơ cứu nạn nhân có vết thương chảy máu

Vết thương đâm xuyên còn dị vật:

Nếu các vết thương chảy máu có dị vật như mảnh gỗ, kim loại hoặc bất kỳ vật gì đâm vào và vẫn cắm ở vết thương thì không được rút dị vật ra.

Bịt kín vết thương bằng cách ép mép vết thương sát với dị vật.

Dùng miếng vải vuông hoặc một khăn tam giác quấn lại thành vòng đệm xung quanh dị vật, sau đó dùng băng ép lại như với vết thương không có dị vật, chú ý không gây áp lực trực tiếp lên dị vật.

Để bệnh nhân nghỉ ngơi tuyệt đối:

Kể cả khi bị thương ở tay hay nửa trên của người, bệnh nhân cũng cần được nghỉ ngơi trong tư thế thuận tiện ít nhất 10 phút để giúp cầm máu.

Giữ yên tĩnh cho nạn nhân, động viên an ủi nếu nạn nhân tỉnh táo.

Chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế nếu thấy cần thiết:

Nếu vết thương nhỏ và nạn nhân có thể di chuyển bằng ô tô xe máy thông thường thì chuyển ngay nạn nhân tới cơ sở y tế gần đó.

Nếu vết thương nặng hay tình trạng nạn nhân xấu thì gọi cấp cứu càng sớm càng tốt.

Trong khi chờ đợi hoặc trên đường vận chuyển phải theo dõi sát tình trạng hô hấp, tuần hoàn của nạn nhân. Giữ ấm cho nạn nhân.

Cố gắng tránh tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc các loại dịch khác từ cơ thể nạn nhân. Sử dụng găng tay dùng một lần nếu có thể. Nếu không có găng thì dùng túi nilon thông thường để thay thế.

Nếu máu thấm qua gạc và băng:

Nếu máu thấm qua gạc và băng thì dùng lớp băng thứ hai quấn chặt lên lớp băng cũ.

Với các vết thương chảy máu quá mạnh không thể kiểm soát, cần nhanh chóng thay lớp gạc và băng thứ nhất đã sũng máu bằng lớp gạc và băng mới. Máu không cầm được có thể là do tấm gạc thứ nhất dùng để chèn vết thương đã bị trượt khỏi vị trí ban đầu.

Chảy máu trong

Chảy máu trong xuất hiện khi các mạch máu bên trong cơ thể bị vỡ và máu thoát ra khỏi hệ tuần hoàn. Hiện tượng này có thể xảy ra khi nạn nhân bị đập mạnh vào đầu, ngực hay bụng do ngã hoặc bị xe đâm. Người không có chuyên môn thường khó nhận biết các dấu hiệu của chảy máu trong.

Cần nghi ngờ chảy máu trong khi xuất hiện máu trong dịch nôn, đờm, nước tiểu hoặc phân. Nạn nhân có thể thở nhanh, thở hổn hển, khát nước ngày càng tăng, ho ra máu đỏ tươi lẫn bọt, nôn ra máu đen như màu bã cà phê, nước tiểu đỏ tươi hay có màu gỉ sắt (nâu đỏ nhạt), phân đen như nhựa đường. Bệnh nhân nhợt nhạt, thấy lạnh, da ẩm ướt.

Xử trí:

- Ðặt nạn nhân nằm nghỉ ở tư thế thoải mái dễ chịu nhất.

– Đắp chăn giữ ấm cho nạn nhân.

- Trải tấm lót cho nạn nhân nằm lên trên nếu mặt đường gồ ghề hoặc nóng quá hay lạnh quá.

- Gọi cấp cứu 115.

Trong khi chờ đợi:

- Xử lý các vết thương khác.

- Nới rộng quần áo, nhất là ở vùng cổ và thắt lưng.

- Trấn an người bệnh.

- Không cho bệnh nhân ăn, uống hoặc hút thuốc lá.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên văn phòng

Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên văn phòng

 

Thói quen

Ngồi nhiều: Ngồi trong thời gian dài tại nơi làm việc mà không di chuyển nhiều? Các nhà nghiên cứu cho rằng lối sống như vậy có thể dần dần làm mỏng cấu trúc não. Một nghiên cứu của Anh năm 2017 cho thấy các công việc văn phòng có mối liên quan chặt chẽ với nguy cơ béo phì và bệnh tim. TS. William Tigbe của Trường Y khoa Warwick, Anh cho biết, thời gian dài hơn trong tư thế ít vận động có liên quan đáng kể với chu vi vòng eo lớn hơn, chất béo trung tính cao hơn và cholesterol HDL (cholesterol tốt) thấp hơn.

Nhìn chằm chằm vào máy tính: Thời gian dài nhìn chằm chằm vào máy tính có thể dẫn đến mỏi mắt. Do đó, tại nơi làm việc nên thực hiện các bước để ngăn cản sự kết hợp nguy hiểm của hoạt động thể chất bị giảm và chế độ ăn uống không lành mạnh.

Cần làm gì? Đi cầu thang bộ thay vì thang máy, rời khỏi ghế bất cứ khi nào có thể, đảm bảo bữa ăn trưa lành mạnh và thực hiện các bài tập tại bàn làm việc là một số biện pháp cá nhân mà nhân viên có thể cân nhắc để giảm thiểu nguy cơ.

 

Đồng nghiệp

Những người bạn làm việc cùng đóng một vai trò quan trọng trong chất lượng cuộc sống, đặc biệt liên quan đến sức khỏe tâm thần và mức năng suất. Nói chung, rất nhiều người dành nhiều thời gian xung quanh đồng nghiệp của họ hơn gia đình hoặc bạn bè của họ.

 

 

Sau khi kiểm tra gần 700 công nhân Mỹ, một nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng nếu tiếp xúc với đồng nghiệp thô lỗ có thể gây ra các triệu chứng bất lợi cho sức khỏe như mất ngủ, mệt mỏi và sức khỏe tâm thần kém. Trong một cuộc khảo sát tại Mỹ công bố vào năm 2017, cứ 1/5 công nhân Mỹ được báo cáo là đang tiếp xúc với môi trường xã hội thù địch hoặc bị đe dọa tại nơi làm việc và hậu quả là nhân viên có thể cảm thấy khó tập trung vì họ không thể yên tâm.

TS. Nicole Maestas, phó giáo sư về chính sách chăm sóc sức khỏe tại Trường Y Harvard nhấn mạnh rằng, cần có những quy tắc ứng xử và can thiệp cần thiết để tránh những tổn thất về sức khỏe cho nhân viên.

Không gian làm việc

Trong những năm gần đây, người ta cho rằng các văn phòng có không gian mở có thể có hại nhiều hơn lợi ích bởi đa số nhân viên văn phòng rất khó tập trung và thiếu sự riêng tư.

 

Không gian làm việc

 

Giáo sư Ann Richardson, một giáo sư tại Đại học Canterbury ở New Zealand nói thêm rằng, họ có thể còn bị tăng nguy cơ bệnh tật, kích thích nhận thức cảm xúc, giảm khả năng hoàn thành cũng như sự hài lòng với công việc. Do đó, không gian văn phòng nên được thiết kế để cho phép có mức độ ánh sáng mặt trời và không khí trong lành nhất định vì chất lượng không khí trong nhà kém có thể dẫn đến ho, kích ứng, đau đầu, buồn ngủ…  Ngoài ra, vi khuẩn còn có thể được tìm thấy ở những nơi như nắm cửa, máy pha cà phê, máy in và thang máy nên cần được vệ sinh sạch sẽ để giảm thiểu tối đa nguy cơ gây bệnh. Theo các nghiên cứu khác, máy sấy tay có thể làm lây lan vi khuẩn vào người dùng và bàn phím máy tính có thể chứa nhiều vi khuẩn hơn nhà vệ sinh.

Lê Thu Lương

(theo Medical Daily)

Phát minh tình cờ làm thay đổi cuộc sống

Máy tạo nhịp tim

Năm 1956, nhà khoa học người Mỹ Wilson Greatbatch (1919-2011) bắt tay vào nghiên cứu phát triển thiết bị để theo dõi nhịp tim. Trong lúc ông đang thao tác, ông đã lắp một bóng bán dẫn vào thiết bị có công suất cao gấp 100 lần bóng bán dẫn thông thường. Lỗi thao tác này khiến Greatbatch tạo ra các xung điện giống hệt nhịp đập của tim. Tình cờ, Greatbatch đã tạo ra một thiết bị theo dõi nhịp tim lắp bên trong cơ thể, một công cụ mà thời điểm cuối năm 50 ở thế kỷ trước còn rất xa lạ. Người ta mới chỉ phát minh ra máy tạo nhịp tim cồng kềnh dùng cố định mà thôi.

Thay vì những chiếc máy điều hòa nhịp tim đầu tiên (Pacemakers) trông giống như một chiếc tivi, sử dụng năng lượng pin không đủ nên phải cắm vào ổ điện cố định (bệnh nhân dùng máy tạo nhịp tim thời đó giống như một người chạy thận nhân tạo, không thể rời khỏi máy mà cũng không thể mang nó đi theo), giờ đây nhờ máy tạo nhịp tim lắp trong người đã cho phép hàng triệu người bệnh có thể sinh hoạt được bình thường.

Năm 1970, Greatbatch bắt đầu thành lập công ty riêng có tên Greatbatch Inc. và phát triển pin lithium, có tuổi thọ dài mười năm, được sử dụng trong hơn 90% máy điều hòa nhịp tim được thương phẩm trên quy mô toàn thế giới. Ngày nay, hơn ba triệu người được hưởng lợi từ những phát minh của Greatbatch và hơn 600.000 máy tạo nhịp tim của ông được cấy mỗi năm.

Nhà khoa học Wilson Greatbatch và máy tạo nhịp tim do ông phát minh.

Nhà khoa học Wilson Greatbatch và máy tạo nhịp tim do ông phát minh.Nhà khoa học Wilson Greatbatch và máy tạo nhịp tim do ông phát minh.

Nhà khoa học Wilson Greatbatch và máy tạo nhịp tim do ông phát minh.

Chất làm ngọt nhân tạo saccharin

Saccharin là chất làm ngọt nhân tạo đầu tiên được con người tạo ra để thay thế đường mía, đặc biệt hơn, nó được ra đời hoàn toàn ngẫu nhiên. Vào cuối năm 1878, đầu năm 1879, GS. Ira Remsen đang điều hành một phòng thí nghiệm nhỏ tại Đại học John Hopkins ở Baltimore, Maryland (Mỹ) thì có Công ty nhập khẩu H.W. Perot (HWP) đến đề nghị hợp tác làm một số việc liên quan đến đường. HWP muốn Constantin Fahlberg, một chuyên gia về đồ ngọt, sử dụng phòng thí nghiệm của Remsen để kiểm tra độ tinh khiết của một số lô hàng mà họ sắp nhập khẩu.

Sau khi hoàn thành các xét nghiệm, Fahlberg ở lại làm việc cho GS. Ira Remsen. Một ngày nọ, trong khi ăn tối, Fahlberg phát hiện thấy ổ bánh mì của ông có một vị ngọt bất thường và quyết định tìm hiểu nguyên nhân. Sau khi suy luận, vị ngọt của bánh mì không phải do người làm bánh tạo nên. Ngay lập tức, Fahlberg đem chiếc bánh ăn dở ra phân tích và phát hiện thấy hóa chất trên tay ông khi làm việc tại phòng thí nghiệm chính là nguyên nhân gây ngọt, hóa chất đó đã đi vào ổ bánh mì mà Fahlberg đang ăn. Vì không có phản ứng bất lợi với hóa chất chưa biết này, nên Fahlberg quyết định nghiên cứu tiếp để tìm ra sự thật.

Fahlberg không thể nhớ chính xác hợp chất mà ông đã mang nó trên tay khi ở phòng thí nghiệm về, vì vậy ông đã quyết định nếm thử mọi hóa chất mà ông đã tiếp xúc trong ngày hôm đó tại phòng thí nghiệm và cuối cùng ông đã tìm thấy, trong khi làm thí nghiệm ông đã đổ đầy một cốc phospho clorua, amoniac và axit sulfobenzoic, tạo ra sulfatide benzoic (benzoic sulfimide), hợp chất mà ông biết nhưng chưa bao giờ được dùng làm thực phẩm cả. Nhờ phản ứng nói trên, Fahlberg đã khám phá ra saccharin, nó từng được dùng phổ biến trong Thế chiến I do nạn khan hiếm đường.

Trái với những gì đồn thổi, saccharin rất an toàn khi tiêu thụ bởi qua các nghiên cứu khoa học người ta chứng minh được điều này. Saccharin còn được gọi với tên khác là đường không sinh năng lượng, độ ngọt của saccharin cao hơn đường saccharose 300 lần nhưng ở nồng độ cao saccharin có dư vị của kim loại. Saccharin được sử dụng để làm ngọt các sản phẩm như đồ uống giải khát, kẹo, bánh bích quy, thuốc chữa bệnh, kem đánh răng... Cũng như nhiều chất ngọt thay thế khác, saccharin không bị hấp thu bởi hệ tiêu hóa, không gây ảnh hưởng tới hàm lượng insulin trong máu, không tạo năng lượng. Vì vậy, saccharin được xếp vào nhóm chất ngọt không calo, còn được sử dụng trong sản xuất mỹ phẩm và dược phẩm…

Khắc Hùng

((Theo listverse.com))